Drew Gilpin Faust
Thưa
các vị khách quý, các bạn sinh viên vừa tốt nghiệp, quý phụ huynh, cựu
sinh viên, các vị đồng nghiệp và bạn bè, và Bộ trưởng Chu, xin chào mừng
quý vị đã đến đây tham dự buổi lễ này.
Đã trở thành
truyền thống buổi nói chuyện của hiệu trưởng nhà trường trong lễ tốt
nghiệp hàng năm để nói về một năm đã qua, báo cáo về những thành tựu nhà
trường đã đạt được và những hướng đi sắp tới trong việc tập hợp các cựu
sinh viên và những người bạn của nhà trường. Tháng 6 năm nay tôi có cả
một năm đầy những bất ngờ và những đổi thay nhiều kịch tính để mà phản
ánh.
Đáng lẽ tôi cần nhận thức rõ về những gì khác thường
đã diễn ra trong đêm đầu tiên chào mừng các em sinh viên năm thứ nhất
đặt chân vào Đại học Harvard tháng 9 năm qua, với sân trường được tắt
đèn hoàn toàn. Lúc đó, trong nhiều tuần lễ, các thị trường tài chính rối
loạn, các công ty uy tín bắt đầu sụp đổ, và chúng ta đã chứng kiến hàng
ngàn tỷ đô la biến mất trên toàn cầu. Chín tháng sau, chúng ta sống
trong một thế giới mới- một thế giới với những cơ chế, tiền đề và giá
trị, cũng như các nguồn lực, đang thay đổi. Ít ai mong đợi sự quay lại
nhanh chóng của thế giới mà chúng ta đã quen xem như tất yếu phải thế
chỉ mới cách đây một năm mà thôi.
Hôm nay chúng ta làm lễ
tốt nghiệp cho những sinh viên mà theo tờ The New York Times, là những
người phải đương đầu với một thị trường lao động khó khăn nhất trong
nhiều thập kỷ. Chúng ta cấp bằng cho sinh viên bước vào những ngành nghề
đang phải tìm kiếm những “cánh đồng” mới khi đối mặt với những quy
định, điều kiện lương bổng và những mục tiêu công đã thay đổi. Và chúng
ta thấy vai trò và nguồn lực của các trường đại học cũng đang thay đổi
trong môi trường khủng hoảng toàn cầu. Rõ ràng là chưa bao giờ chúng ta
được xã hội cần đến như hiện nay. Chúng ta đã thấy Harvard trở thành gần
như một cơ quan tuyển dụng cho chính phủ mới ở Washington. Khi Nhà
Trắng tìm kiếm giải pháp cứu vãn nền kinh tế suy sụp, hay giải pháp cho
tình trạng thay đổi khí hậu, thực hiện chăm sóc sức khỏe cộng đồng, cải
cách các quy định hay giáo dục phổ thông, họ đều kêu gọi đến sự phục vụ
của đội ngũ cán bộ giảng viên của chúng ta, nhiều đến nỗi Thượng nghị sĩ
Susan Collins ở Maine trong một buổi thu thập ý kiến về việc đề bạt
nhân sự cấp cao, đã phải hỏi liệu có còn sót lại một giảng viên nào cho
trường luật ở Cambridge hay không. Cũng không chỉ các giảng viên, mà rất
nhiều cựu sinh viên của chúng ta đã được rút về làm việc ở những vị trí
trong nội các và tất nhiên cả Phòng Bầu dục của Nhà Trắng.
Tri
thức- và những con người có tri thức- là nhân tố cốt yếu để vượt qua
những thử thách mà chúng ta đang phải đương đầu. Đó chính là điều mà
chúng ta đang làm với tư cách là một trường đại học. Đó chính là điều
cho thấy chúng ta là ai. Chúng ta tạo ra tri thức, và chúng ta gieo rắc
nó khi giảng dạy sinh viên và chia sẻ kết quả nghiên cứu của mình. Tổng
thống mới của chúng ta đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ cần phải “hỗ trợ các
trường đại học nhằm đáp ứng đòi hỏi của thời đại mới”, và phải “trả khoa
học về đúng chỗ chính đáng cuả nó”, nghĩa là dẫn đầu thế giới trong
việc nghiên cứu và khám phá. Bộ trưởng Bộ Năng lượng, diễn giả Steven
Chu hôm nay, đã nhấn mạnh thêm thông điệp này, khẳng định rằng “sự thịnh
vượng của quốc gia chúng ta trong những năm sắp đến tùy thuộc vào khả
năng của chúng ta trong việc nuôi dưỡng nguồn vốn trí thức”.
Nhưng
ngay cả khi chúng ta tái xác nhận một lần nữa tầm quan trọng của các
trường đại học và những việc họ làm, chúng ta đã bắt đầu thấy rằng cần
phải làm công việc ấy một cách khác đi so với trước. Ở Trường Đại học
Harvard, cũng như những trường bạn, chúng ta đang phải đương đầu với
những bối cảnh đã thay đổi và đòi hỏi phải có những chiến lược được thay
đổi cho phù hợp. Với tư cách một cộng đồng đại học chúng ta đã dành rất
nhiều thời gian trong những năm qua để tập trung vào những thực tiễn
mới đầy khó khăn ấy— bắt đầu quyết định xem cái gì chúng ta có thể và
buộc phải sống mà không có nó. Về tất cả những việc ấy, chúng ta vẫn còn
đang ở những bước đi ban đầu trong việc xác định tương lai của Harvard
và bởi vì các trường khác cũng đang làm như thế, chúng ta đang xác định
tương lai của giáo dục đại học. Nhưng đến cuối năm học với bao nhiêu
thay đổi và điều chỉnh này, chúng ta phải tập trung không phải vào những
gì chúng ta đã mất, mà là những gì chúng ta đang có. Đây là lúc nghĩ về
chính bản thân chúng ta không hẳn chỉ như đối tượng của cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu đang vượt quá tầm kiểm soát, mà là người kế thừa
một ngôi trường bốn trăm năm tuổi, một ngôi trường đã định nghĩa thế nào
là sự ưu tú trong khoa học cho cả thế giới. Trong lễ nhậm chức hiệu
trưởng cách đây một năm rưỡi, tôi đã nói về trách nhiệm ấy- những gì
chúng ta còn nợ các giáo sư, các nhà khoa học và sinh viên, những gì
chúng ta với tư cách một trường đại học còn nợ thế giới này. Trách nhiệm
này giờ đây càng thêm nặng nề bởi thời đại mà chúng ta đang phải đối
mặt. Chúng ta không thể đơn giản chỉ phục vụ như những người quản lý hay
trông nom truyền thống và những đặc điểm đáng tự hào của Harvard. Chúng
ta phải xây dựng và định hình những mục đích của trường đại học cho một
tương lai đã đổi thay.
Sử gia lỗi lạc thời Trung cổ
Caroline Bynum có lần nhận xét rằng “thay đổi là cái buộc chúng ta phải
tự hỏi mình là ai”. Đâu là những thứ phù du sớm nở tối tàn, đâu là những
gì bản chất cốt lõi? Cái gì chỉ là tập quán, thói quen? Trách nhiệm của
chúng ta đối với Harvard, đối với nhau, đối với giáo dục đại học, nghĩa
là chúng ta phải đặt ra những câu hỏi ấy và phải biết nắm lấy thời khắc
đổi thay và những cơ hội trước mặt. Đổi thay có thể xảy ra với chúng
ta, hoặc thông qua chúng ta. Chúng ta cần phải chắc chắn rằng mình là
người thiết kế chứ không phải là nạn nhân của sự đổi thay. Chúng ta phải
tự hỏi chính mình, rằng ta muốn trở thành cái gì trong cuộc suy thoái
và khủng hoảng này, khi thế giới đang tiếp cận với cái có thể tạm gọi là
một tiêu chuẩn mới. Chúng ta sẽ hình dung bản thân mình và những mục
đích của mình như thế nào?
Những câu hỏi này đòi hỏi phải
lên kế hoạch và tư vấn nhiều thành viên trong trường, và đó là quá
trình còn đang thực hiện. Đây là những câu hỏi đòi hỏi phải có những
quyết định và cân bằng các yếu tố khác nhau để đạt được sự kết hợp tốt
nhất từ mọi bộ phận của nhà trường. Mỗi sự lựa chọn cụ thể sẽ có những
tác động và ý nghĩa của riêng nó. Nhưng tôi muốn hướng sự chú ý của
chúng ta hôm nay tới ý nghĩa của việc tích lũy để đi đến những quyết
định ấy- một tổng thể vượt rất xa kết quả logic của từng bộ phận. Những
sự lựa chọn này, như một tổng thể, sẽ tạo thành tuyên ngôn của chúng ta
về niềm tin của Harvard rằng một trường đại học nghiên cứu của thế kỷ 21
nên là và cần phải là như thế nào.
Tôi muốn tập trung
vài phút để nói về ba đặc điểm cốt lõi của trường đại học. Chỉ ba mà
thôi. Sự phản ánh vắn tắt này không thể nói hết được những gì chúng ta
phải làm và phải là trong tương lai. Nhưng tôi đã chọn ba đặc điểm ấy vì
nó tiêu biểu cho những nhận thức đặc biệt quan trọng và đã tồn tại từ
rất lâu về bản sắc của chúng ta – về những trách nhiệm và những cơ hội
sẽ phải tiếp tục hướng dẫn chúng ta. Nhưng tôi cũng muốn lưu ý về những
thử thách rất thực mà chúng ta phải đương đầu- với tư cách một trường
đại học, cũng như một quốc gia- trong việc duy trì những cam kết này với
một thế giới mà năm qua đã định nghĩa lại một cách khác đi nhiều so với
trước đó.
Trước hết: Các trường đại học Hoa Kỳ đã từ lâu
được xem là cỗ máy tạo ra cơ hội và sự ưu tú. Giáo dục là tâm điểm của
giấc mơ Mỹ từ thời lập quốc. Tuy vậy tất cả chúng ta đều biết rằng học
phí đại học tăng cao đã gây khó khăn cho nhiều gia đình trung bình ở Mỹ.
Giữ cho giáo dục đại học ở mức người dân có thể chi trả được là điều
cốt yếu đối với quốc gia và cốt yếu đối với Harvard. Nói đến cơ hội là
nói đến sự công bằng, và đồng thời là sự ưu tú. Chúng ta cần phải là một
thỏi nam châm để thu hút tài năng. Chúng ta đã hành động một cách kiên
định với niềm tin chắc chắn này. Trong năm năm qua, chúng ta đã tạo ra
một chương trình hỗ trợ tài chính có tác dụng biến đổi quan trọng, nghĩa
là bảo đảm rằng mọi sinh viên có năng lực và tham vọng đều có thể theo
học ở Harvard bất kể hoàn cảnh tài chính của họ. Và trong thập kỷ qua,
chúng ta đã nâng cao gấp ba lần khoản hỗ trợ tài chính cho sinh viên và
cho các trường chuyên ngành của chúng ta. Sự hỗ trợ đối với những sinh
viên tài năng là một phần cốt lõi trong bản sắc của chúng ta, vì chúng
ta tin rằng những ý tưởng hay nhất không xuất phát từ một giai cấp xã
hội hay một dân tộc, giới tính, quê hương cụ thể nào. Đem lại cơ hội
rộng rãi trong tiếp cận đại học là phương hướng cơ bản trong trách nhiệm
và tính chính đáng trong hoạt động của chúng ta- chính trong mắt chúng
ta, với những giá trị dựa trên chế độ tôn trọng nhân tài một cách mạnh
mẽ; cũng như trong mắt xã hội rộng lớn đã dành cho chúng ta những ưu
tiên như miễn thuế hay tài trợ nghiên cứu. Thậm chí khi nhu cầu nảy sinh
trong sinh viên và nguồn quỹ hiến tặng giảm sút khiến những cam kết
trên đây thành ra ngày càng quá tốn kém, chúng ta vẫn phải tái khẳng
định những nguyên tắc về cơ hội tiếp cận như một nhân tố xác định chúng
ta là ai. Vì chúng ta cam kết sẽ đem những người thông minh nhất vào
trường Đại học Harvard, chúng ta sẽ phải tiếp tục đầu tư những giảng
viên lỗi lạc nhất để hướng dẫn những con người thông minh ấy theo đuổi
việc khám phá và nghiên cứu khoa học, những thứ đã định nghĩa nên
Harvard như một trường đại học nghiên cứu ưu việt. Thậm chí ngay cả khi
phải đối mặt với tình trạng căng thẳng về nguồn lực, chúng ta cũng phải
duy trì và xây dựng đội ngũ giảng viên này cho tương lai. Những sinh
viên tài năng đòi hỏi phải có những giảng viên tài năng và ngược lại.
Chúng ta hãy bảo đảm rằng mình sẽ tiếp tục thu hút và phát triển thành
công cả hai đối tượng ấy.
Nhân tố thứ hai của bản chất
trường đại học mà tôi muốn trình bày ở đây là vai trò của trường đại học
như một địa điểm cơ bản của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng ở
Hoa Kỳ. Trong những năm sau thế chiến thứ hai, chính sách liên bang đã
xây dựng nên một cơ cấu đòi hỏi việc nghiên cứu khoa học và khoa học xã
hội được thực hiện dựa trên nhà nước và các trường đại học nghiên cứu.
Nghiên cứu và phát triển thu hút không nhiều đầu tư của khu vực tư nhân
và trong những năm gần đây thậm chí mức độ đầu tư khiêm tốn ấy còn tiếp
tục giảm sút. Xu hướng này được biểu tượng hóa bằng hình ảnh co lại của
Phòng Thí nghiệm Bell, nơi mà trong những thập kỷ trước đã từng thúc đẩy
những nghiên cứu cơ bản chẳng hạn những khám phá được giải Nobel của Bộ
trưởng Steven Chu, người đã nhận bằng danh dự của Harvard.
Nhưng
ngay khi sự gắn bó của khu vực tư nhân đối với việc nghiên cứu bị giảm
sút, sự hỗ trợ của chính phủ đối với nghiên cứu cũng giảm sút theo.
Trong vòng ba thập kỷ vừa qua, ngân sách liên bang dành cho nghiên cứu
và phát triển đã giảm sút hơn 15% theo tỷ lệ GDP của Hoa Kỳ. Gói kích
cầu của liên bang đã đem lại sự cứu giúp tạm thời làm trì hoãn xu hướng
này- với 21 tỉ đô la cho hai năm sắp tới, chính phủ đã đặt mục tiêu dành
hơn 3% GDP cho nghiên cứu và phát triển ngay cả khi kế hoạch kích cầu
kết thúc. Nhưng thâm hụt tài chính liên bang quá cao sẽ kết hợp với việc
thu hẹp nguồn lực của nhà trường để tạo ra những thách thức gay gắt
trong việc đáp ứng những dự định rất tham vọng ấy. Thậm chí ngay cả
trước khi kinh tế suy sụp, mô hình hỗ trợ khoa học cũng đã cần phải xem
xét lại toàn bộ. Một báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia năm 2007
đã cảnh báo, đất nước chúng ta đã và đang đối mặt với một cơn bão dồn
dập, quá ít sinh viên chọn theo học các ngành khoa học, quá ít người tìm
được những hỗ trợ cần thiết để khởi động và duy trì sự nghiệp nghiên
cứu của họ; quá nhiều người chọn những nghiên cứu an toàn và có thể dự
đoán trước kết quả nhằm bảo đảm có được nguồn tài trợ; quá ít người có
khả năng theo đuổi sự tò mò khoa học để đạt đến những ý tưởng cách mạng
thực sự. Cuộc khủng hoảng tài chính chỉ làm lộ rõ những vấn đề vốn đã
tồn tại về tương lai của nghiên cứu khoa học ở Hoa Kỳ, và về việc hỗ trợ
cho khoa học tại các trường đại học nghiên cứu của chúng ta.
Quỹ
kích cầu ngắn hạn không được làm chệch hướng chúng ta trong việc tìm
kiếm những giải pháp lâu dài. Mức tài trợ của liên bang là một phần
trọng yếu của câu trả lời, nhưng đó cũng chỉ là một phần. Chẳng hạn khi
nghĩ về việc làm cách nào hỗ trợ cho khoa học trong bối cảnh kinh tế đã
thay đổi, chúng ta sẽ thấy mình phải nghĩ tới những quan hệ hợp tác kiểu
mới với các quỹ nghiên cứu và các doanh nghiệp, cũng như với các trường
khác. Chúng ta đã thấy những quan hệ hợp tác giữa các khoa và trường
trong phạm vi Harvard, với các bệnh viện trực thuộc, với Viện Broad, với
MIT, và những trường đại học khác như những công việc cốt yếu mà chúng
ta đang thực hiện trong việc nghiên cứu tế bào gốc, khoa học nguyên tử,
công nghệ gen, và kỹ nghệ sinh học. Và khi chúng ta cân nhắc xem làm thế
nào thực hiện được giấc mơ Allston, những quan hệ hợp tác với bên ngoài
Harvard tỏ ra rất hứa hẹn. Nếu chúng ta, với tư cách Harvard và với tư
cách một trường đại học nói chung, muốn duy trì được sự xuất chúng trong
nghiên cứu khoa học thì cần phải tìm ra những cách mới vừa để thực hiện
vừa để hỗ trợ cho nghiên cứu.
Ba là: các trường đại học
phục vụ như những nhà phê bình và là lương tâm của xã hội. Chúng ta tạo
ra không chỉ tri thức mà còn tạo ra những câu hỏi, tạo ra những hiểu
biết bắt nguồn từ chủ nghĩa hoài nghi, từ sự không ngừng đặt câu hỏi chứ
không phải từ sự thống trị của những tri thức thông thái được chấp nhận
không cần thử thách. Hơn bất cứ một tổ chức nào khác trong xã hội, cốt
lõi của các trường đại học là tầm nhìn dài hạn và những quan điểm phản
biện, và những điều này có được chính là vì đại học không phải là sở hữu
của riêng hiện tại.
Gần bốn thế kỷ qua, Harvard đã nhìn
xa hơn những sự hữu dụng và thích đáng tức thời, thoải mái đặt những giả
định hiện tại vào sự thử thách gắt gao của những nơi chốn khác và thời
đại khác. Các trường đại học thường xuyên được đánh giá bằng tiêu chuẩn
có ích – bằng những đóng góp của họ cho sự cạnh tranh và tăng trưởng
kinh tế của quốc gia. Chúng ta có thể đưa ra nhiều ví dụ minh họa mạnh
mẽ cho luận điểm này. Harvard là nhà tuyển dụng tư nhân lớn thứ nhì
trong vùng trung tâm Boston và trực tiếp hay gián tiếp có các hoạt động
kinh tế với giá trị trên 5,3 tỉ đô la Mỹ cho Massachusette trong năm
qua. Nhưng những đóng góp như thế chỉ là một phần của những gì các
trường đại học đã làm và đã tạo nên ý nghĩa trường đại học. Chúng ta cần
các trường đại học không chỉ cho những mục tiêu có tính công cụ và tức
thời như thế.
Tôi lo rằng các trường đại học chúng ta
chưa làm tốt những gì có thể và đáng lẽ phải làm trong việc đặt ra những
câu hỏi sâu xa và đáng lo ngại về tính chính trực của bất cứ xã hội
nào. Khi thế giới tự cho phép mình hưởng thụ trong cái bong bóng phồn
vinh giả tạo và chủ nghĩa tôn sùng vật chất, nên chăng chúng ta cần phải
làm nhiều hơn nữa –qua nghiên cứu, giảng dạy và viết lách- phơi bày
những dấu hiệu rủi ro và tâm lý muốn chối bỏ sự thật phũ phàng đang hiện
diện trong những lựa chọn kinh tế và tài chính hàng ngày? —Nên chăng hệ
thống giá trị của chúng ta cần phải đưa ra một đối trọng và thách thức
vững chắc hơn đối với thói vô trách nhiệm và sự quá đáng, đối với lối
suy nghĩ chạy theo lợi ích trước mắt và để lại hậu quả lâu dài?
Đặc
quyền về tự do học thuật gắn liền với nghĩa vụ nói lên sự thật ngay cả
khi điều đó hết sức khó khăn hay không được nhiều người ưa chuộng. Vậy
là rốt cục nó quay lại biểu tượng Sự Thật trên tấm khiên của Harvard- sự
cam kết dùng kết quả nghiên cứu và tri thức để xóa tan ảo tưởng, sự
thiên lệch, thành kiến và tính tư lợi. Sự thật này có thể đến dưới hình
thức những hiểu biết sâu sắc của khoa học không bị chi phối bởi ý thức
hệ và chính trị. Nó cũng có thể đến trong công trình của các nhà nghiên
cứu khoa học nhân văn, những người đã giúp chúng ta biết cách đọc và suy
nghĩ một cách độc lập, cũng như đã đem lại cho chúng ta những quan điểm
khác biệt của những tiếng nói khác, từ những nơi chốn khác, thời đại
khác. Nó có thể đến thông qua sức mạnh tái hiện độc nhất của nghệ thuật-
những thứ đã giúp chúng ta có khả năng hiểu được chính mình và hiểu
được thế giới chung quanh nhờ biết thay đổi con mắt và lỗ tai. Nó có thể
đến qua những câu hỏi về đạo đức và trách nhiệm được đặt ra trong
chương trình giáo dục tổng quát cho tất cả các khoa chuyên ngành trong
trường chúng ta. Thực tế là trong mấy tuần qua một nhóm sinh viên Trường
Kinh doanh đã sáng tạo ra “lời tuyên thệ của doanh nhân” nhằm bảo đảm
mọi sinh viên ra trường sẽ “phục vụ tốt hơn nữa cho điều thiện”. Được
hỏi làm cách nào các trường quản trị kinh doanh và sinh viên của họ có
thể ngăn chặn hay đẩy lùi cuộc khủng hoảng tài chính, câu trả lời của
những sinh viên ấy là họ sẽ tìm cách khuyến khích lương tâm và sự tỉnh
táo trong việc đào tạo nghề kinh doanh cũng như trong việc kinh doanh
như một hoạt động nghề nghiệp.
Việc nâng cao vai trò của
chúng ta như những nhà phản biện và hoài nghi chỉ có được nhờ giáo dục
sinh viên, nơi chúng ta tìm cách, theo lời của Chương trình Giáo dục
Tổng quát mới, là “làm đảo lộn các giả định hay thành kiến, biến những
thứ quen thuộc thành cái gì lạ lùng như lần đầu được thấy..nhằm làm mất
phương hướng những người trẻ tuổi và giúp họ tìm cách tự mình định hướng
lại cho chính mình”.
Khi thích nghi với một thế giới
đang thay đổi nhanh chóng, chúng ta phải một lần nữa xây dựng lại truyền
thống giáo dục tự do và những yêu cầu nhân văn của Harvard. Những
truyền thống ấy có thể tạo ra khả năng tự nghiên cứu và tự nhận thức
giúp chúng ta vượt qua sự hoài nghi để đến được sự thông thái khôn
ngoan.
Trường đại học là cỗ máy sản sinh ra những cơ hội,
là mảnh đất chủ yếu của hoạt động nghiên cứu khoa học ở Hoa Kỳ; cũng là
người nói lên sự thật; đó là ba nhân tố cơ bản trong nhận thức của
chúng ta về trường đại học. Tuy từng nhân tố ấy đang phải đối mặt với
những thử thách trong kỷ nguyên mới phía trước chúng ta, những thách
thức về cơ chế, về khả năng chi trả, về hệ thống giá trị. Và chúng ta bị
thách thức trong việc chứng minh những cam kết của mình đối với ba
nguyên tắc ấy, những nguyên tắc bao đời nay đã là trọng tâm của những
điều chủ yếu đã định nghĩa nên chúng ta như một trường đại học. Chúng ta
không được xem những nguyên tắc ấy là đương nhiên, chúng ta không được
đánh mất khả năng nhìn vào những nguyên tắc ấy khi chúng ta buộc phải
lựa chọn giữ lại cái gì và bỏ qua cái gì trong những tháng năm sắp đến.
Nhưng chúng ta phải tạo ra những phương cách mới để duy trì những nguyên
tắc ấy trong một thời đại đã có nhiều đổi thay. Chúng ta có trách nhiệm
với những truyền thống ấy và những giá trị mà truyền thống ấy đại diện –
đó chính là niềm tin rằng sự cởi mở và tự do theo đuổi chân lý sẽ tạo
nên một thế giới tốt đẹp hơn cho tất cả chúng ta. Đó chính là điều thôi
thúc tất cả những gì chúng ta làm và cho thấy chúng ta có ý nghĩa gì –
trong thời khắc này cũng như trong nhiều năm sắp đến.
Lược dịch
(Nguồn:
http://www.president.harvard.edu/speeches/faust/090604_commencement.php)